Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Nghiên cứu khoa học là sức sống

Trong những năm qua, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đầu tư có trọng điểm để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên trong toàn trường.

Nghiên cứu khoa học tăng dần

Là một trường đại học hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam luôn chú trọng đến việc phát triển nghiên cứu khoa học đối với giảng viên và sinh viên trong trường.

Lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam xác định nghiên cứu khoa học (NCKH) 

là nền tảng, động lực của mọi hoạt động trong trường đại học 

Lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam xác định nghiên cứu khoa học (NCKH) là nền tảng, động lực của mọi hoạt động trong trường đại học. Khi thực hiện tốt NCKH sẽ giúp nâng cao trình độ và chất lượng của giảng viên, nhà khoa học.

Hoạt động nghiên cứu khoa học, đặc biệt là NCKH của cán bộ trẻ, giảng viên trẻ, sinh viên luôn được Học viện Nông nghiệp Việt Nam quan tâm và triển khai đồng bộ, toàn diện từ cấp cơ sở đến cấp Học viện.

Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, tuổi trẻ Học viện  đã phát huy được trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng tiếp cận và từng bước làm chủ khoa học công nghệ ở các cương vị công tác.

Bên cạnh đó, hoạt động này cũng giúp thế hệ trẻ có phương pháp tư duy, tác phong khoa học, nâng cao trình độ và năng lực công tác chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong toàn Học viện.

Theo số liệu thống kê, hiện nay có 80% cán bộ viên chức toàn Học viện tham gia nghiên cứu khoa học. Nhà trường đã phát triển nguồn lực chất lượng cao, cơ sở vật chất đồng bộ và hiện đại với nhiều phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO.

Vì vậy, số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và kinh phí phục vụ cho nghiên cứu khoa học của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng tăng dần qua các năm.

Từ 500 nhiệm vụ giai đoạn 2000 – 2005 lên đến 1.067 nhiệm vụ giai đoạn 2011 – 2015, với tổng kinh phí 306,2 tỷ đồng. Trong đó, nhiệm vụ khoa học cấp nhà nước 43, cấp bộ 127, hợp tác quốc tế 17, địa phương 55 và cấp cơ sở 825 nhiệm vụ.

Học viện cũng tham gia chủ trì và tham gia một số chương trình trọng điểm Quốc gia như: Chương trình KH-CN phục vụ xây dựng nông thôn mới; Chương trình KH-CN phát triển vùng Tây Bắc; Chương trình vacxin; Chương trình sản phẩm quốc gia: Lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, sữa và thịt bò…

Số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và kinh phí phục vụ cho nghiên cứu khoa học 

của Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng tăng dần qua các năm

Ngoài ra, PGS Nguyễn Thị Lan (Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cho biết thêm hàng năm Học viện cũng dành kinh phí khá lớn để cấp những ý tưởng sáng tạo của sinh viên.

Nhà trường cũng có quỹ để hỗ trợ các đề tài của sinh viên, giảng viên đã có sản phẩm mang thương hiệu của học viện.

PGS.TS Nguyễn Thị Lan từng tâm sự bản thân cảm thấy may mắn khi ngay từ thời sinh viên, chị Lan đã được các thầy cô tin tưởng giao những đề tài lớn để khuyến khích những người trẻ khám phá, tìm tòi, phát triển bản thân.

Vì vậy, hiện tại lãnh đạo Học viện cũng mong muốn khuyến khích các giảng viên trẻ, các bạn sinh viên tìm tòi nghiên cứu khoa học.

Dù công việc bận rộn với cương vị là Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học trong thú y, nhưng PGS. Nguyễn Thị Lan vẫn dành nhiều thời gian để tiếp tục công việc khơi gợi đam mê cho giới trẻ.

PGS.TS. Nguyễn Thị Lan chia sẻ: “Mình cố gắng truyền đạt lại những kỹ năng mình có cho thế hệ trẻ. Mình tin tưởng rằng, khi mình làm việc nghiêm túc thì học trò sẽ nhìn thấy tấm gương đó để học tập, nghiên cứu và làm việc nghiêm túc”. 

Vì vậy, không ít học trò mà PGS Nguyễn Thị Lan hướng dẫn đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc.

Những sinh viên chị Lan hướng dẫn năm nào cũng đạt thành tích cao trong nghiên cứu khoa học như: 01 sinh viên đạt giải nhất tại hội nghị khoa học tuổi trẻ các trường Đại học Khối Nông – Lâm – Ngư – Thủy toàn quốc lần thứ 6, 02 sinh viên đạt giải Vifotec và 01 sinh viên đạt giải tài năng khoa học trẻ dành cho sinh viên…

Chia sẻ về các bạn sinh viên hiện nay, nữ Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: “Các bạn trẻ ngày nay rất giỏi. Nhiều em chủ động, năng động, sáng tạo. Là người thầy, người cô mình cố gắng khuyến khích các em theo đuổi đam mê. Quan trọng là xác định được hướng đi cho các em, nếu không thì các em sẽ mãi loay hoay và mất thời gian”.

“Nếu đã có mục tiêu thì cứ mạnh dạn bước đi. Có thể trên đường đi có khó khăn nhưng chúng ta sẽ tìm được cách để vượt qua”, PGS Nguyễn Thị Lan chia sẻ với các bạn trẻ.

Chuyển giao hơn 50 dự án khoa học công nghệ

Trong những năm qua, Học viện đã triển khai hơn 50 dự án, mô hình KH-CN tại nhiều địa phương như Hòa Bình, Phú Thọ, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Lào Cai, Bắc Ninh, Bắc Giang, Điện Biên, Nghệ An, Nam Định, Yên Bái, Bắc Kạn, Thanh Hóa…

Trong những năm qua, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã triển khai hơn 50 dự án, 

mô hình KH-CN tại nhiều địa phương 

Tại Hà Nội, mô hình ứng dụng máy gặt đập mini, hệ thống máy canh tác đồng bộ khoai tây, mô hình trồng chuối tây lai, trồng hoa cúc vạn thọ lùn… được triển khai và nhận được sự tiếp nhận của bà con nông dân.

Tại Hà Nam, mô hình sản xuất rau hữu cơ, mô hình chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học, mô hình xử lý chất thải chăn nuôi, mô hình sản xuất hạt giống lúa lai… được triển khai tại địa phương này.

Tại Bắc Ninh, Học viện đã triển khai mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ xây dựng nông thôn mới và đề xuất giải pháp, mô hình sản xuất khoai tây giống, mô hình sản xuất giống lúa mới…).

Tại Bắc Giang, Học viện đã nghiên cứu và phát triển bưởi Diễn tại Hiệp Hòa, xây dựng vườn cây đầu dòng cho các cây ăn quả, xây dựng mô hình sản xuất cà chua, dưa chuột và na phục vụ chế biến và xuất khẩu, xây dựng mô hình chăn nuôi lợn chất lượng cao…

Tại Phú Thọ, Học viện nghiên cứu chính sách bảo hiểm cho người trồng chè, chuyển giao công nghệ chế biến và sản xuất phân bón lá Pomior…

Ngoài mô hình KH-CN được triển khai tại các địa phương, các công trình nghiên cứu của Học viện cũng được chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất như: giống lúa thuần, giống lúa lai, giống cà chua, ngô, đậu tương, phân viên nén, hoa hồng, hoa hiên, hoa lan huệ…

Các quy trình kỹ thuật, tiến bộ kỹ thuật và bằng bảo hộ độc quyền giải pháp hữu ích, KIT chẩn đoán nhanh bệnh tai xanh trên lợn tại Việt Nam (2 – 5 phút), vacxin tai xanh vô hoạt nhũ dầu, vacxin care phòng bệnh sài sốt chó, vacxin dịch tả vịt, máy gặt liên hoàn…

Các công trình khoa học được Học viện chuyển giao công nghệ thành công đã  giúp địa phương tiếp nhận, làm chủ công nghệ để giải quyết các vấn đề cơ bản về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có năng suất.

PGS Nguyễn Thị Lan thông tin thêm, sắp tới, Học viện sẽ hoàn thiện cơ chế đặt hàng sản phẩm KH-CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Với những thành tích về chuyển giao công nghệ, Học viện đã nhận được nhiều bằng khen của Bộ, của Trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Đặc biệt PGS.TS Nguyễn Thị Trâm được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động; PGS. TS Nguyễn Thị Lan vinh dự nhận Cúp vàng “Trí thức KH-CN tiêu biểu năm 2015”…

GS-TS Vũ Văn Liết: “Hạnh phúc trong nghiên cứu là làm ra sản phẩm bán được”

Chất nông nghiệp toát ra rất đậm ở GS-TS Vũ Văn Liết từ cách ăn mặc giản dị đến nụ cười rộng mở và cả giọng nói đặc sệt Hải Dương mà ông thừa nhận là không hề thay đổi từ khi cha sinh mẹ đẻ. Nhìn bề ngoài, khó đoán ông từng là lãnh đạo một đơn vị lớn.

Ông giáo “chân quê” giỏi ngoại giao 

“Nhiều người – kể cả nông dân – bảo rằng ai lại làm lãnh đạo mà không mặc đồ xịn, không chú trọng hình thức, cứ xắn quần lội ruộng như tôi. Nhưng tôi nghĩ mình làm gì, chải chuốt hay không thì mình vẫn là mình thôi” – GS Vũ Văn Liết – Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam – giải thích về vẻ bề ngoài của mình. 

Điều bất ngờ là con người trông rất mộc mạc, chân quê này lại có tiếng là ngoại giao rất tốt, có lẽ vì ông dễ dàng tạo được sự tin cậy ở người khác. Nhờ khả năng này, ông được giao nhiệm vụ phụ trách mảng hợp tác quốc tế của Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Vị giáo sư chia sẻ với vẻ tự hào: “Trong nhiệm kỳ lãnh đạo ở trường, tôi đã giúp 24 cán bộ đi học thạc sỹ ở nước ngoài và đào tạo 5 thạc sỹ tiếng Anh. Tôi tìm đủ mọi cách để tìm kiếm học bổng cho cán bộ đi học, bởi tôi nghĩ kiến thức chuyên môn phải luôn cập nhật với thế giới thì mới hội nhập toàn diện được, mà muốn vậy phải có ngoại ngữ”.

Giáo sư Vũ Văn Liết. Ảnh: Lê Long

Nhân nói về tầm quan trọng của ngoại ngữ, GS Liết kể chuyện chính khả năng tiếng Anh đã giúp ông hoàn thiện kiến thức và cải thiện kinh tế như thế nào: “Hồi bao cấp, tôi hay đi các địa phương để chuyển giao kỹ thuật, mỗi ngày được 5.000 đồng và một bữa ăn trưa. Kinh tế gia đình hồi đó khó khăn lắm. Hai vợ chồng nuôi lợn cả năm bán đi mới mua được một chỉ vàng. Có dịp tôi được mời đi làm cho một dự án của nước ngoài ở Quảng Ninh. Hồi đó tiếng Anh vẫn còn bập bẹ, vậy mà đi làm có hai tuần, tôi vỡ ra được nhiều kiến thức mới, còn lương thì bằng cả năm nuôi lợn”. 

Và rồi, cả cái tài ngoại giao, hội nhập hay vốn liếng ngoại ngữ ấy, ông đều dùng vào việc phục vụ nghề nông. Đời nghiên cứu của GS Liết gắn với các giống lúa thuần bởi những ngày tháng gắn bó với nông dân giúp ông nhận thấy nếu tạo ra được giống thuần, người dân sau thu hoạch có thể giữ lại giống cho vụ sau mà không phải mua giống với giá cao.

“Lăn lộn với cây lúa, giống lúa rồi những vụ bão lụt, mất mùa, sâu bệnh hại, tôi thấy gắn bó và thương người nông dân hơn. Tôi tìm hiểu sâu về sản xuất và canh tác của nhiều dân tộc và chính những người nông dân cho tôi nhiều bài học. Chẳng hạn người Mông có gà Mèo, cải Mèo – những giống họ chọn tạo có khả năng thích nghi và chất lượng cực kỳ cao mà các dân tộc khác không làm được” – GS Liết nói. 

Trong hàng chục giống lúa quý mà ông chọn tạo, lúa hương cốm, hương Việt… được đánh giá là đầu bảng về lúa thuần chất lượng cao của Việt Nam. “Đặc biệt, giống lúa nếp cẩm DH6 cấy được cả 2 vụ. Loại gạo này có thể dùng làm thực phẩm chức năng với tác dụng chống viêm nhiễm, kháng ung thư” – GS Liết cho biết. 


7 năm lãnh đạo không nhận lương
 

GS Vũ Văn Liết bay tỏ quan điểm: “Với tôi, hạnh phúc trong nghiên cứu là làm ra sản phẩm bán được. Bán được có nghĩa là người dân họ chấp nhận và họ cần. Những sản phẩm chưa bán được, tôi cải tiến để đáp ứng yêu cầu người dùng”. Bởi vậy, việc Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng mà ông đang lãnh đạo có đến 11 trong tổng số 20 giống lúa lai được công nhận của cả nước đối với ông là một thành tựu đáng tự hào. Để có được kết quả đó, ông và các đồng nghiệp đã nắm tay nhau vượt qua những ngày tháng vô cùng khó khăn, thậm chí cả nguy cơ giải thể. 

“Tháng 10/2006 tôi về viện, cán bộ đã hơn 3 tháng chưa có lương. Tôi bảo mọi người là thầy chưa có tiền “nuôi” các em, nếu các em tìm được chỗ khác tốt hơn thì cứ đi; nhưng họ nhất quyết không đi và đó là động lực để tôi xây dựng chương trình nghiên cứu và yêu cầu tập trung triển khai” – GS Liết nhớ lại. Ban đầu, ông tập trung nghiên cứu lúa, cử mọi người đi khắp nước thu thập các giống lúa địa phương nhằm chọn ra giống phù hợp nhất để phát triển. Khi đã có nhiều thành công về lúa, viện nghiên cứu thêm ngô, đậu tương, rau. 

Xác định rằng phải có sản phẩm thì thầy trò mới nuôi được nhau nên GS Liết khuyến khích các đồng nghiệp nghiên cứu giống mới. Hiện giống lúa lai ba dòng CT16 của viện đã được nhân rộng gần như khắp cả nước, nhiều nhất là ở Thanh Hóa, Nghệ An. Viện đã có 4 giống ngô nếp được bán bản quyền và chọn tạo được hai tổ hợp ngô lai lá đứng. 

Giải thích về lý do chọn tạo 2 tổ hợp ngô này, ông cho biết, hiện năng suất ngô của Việt Nam thấp hơn mức bình quân của thế giới (4,5 tấn/ha so với 5,6 tấn/ha) nên cần có giống ưu thế lai lá đứng để có thể trồng ngô với mật độ cao do cây không chiếm nhiều diện tích. Mật độ phổ biến ở Việt Nam là 57.000 cây/ha, GS Liết đẩy lên 83.000 cây/ha, giúp năng suất ngô cao hơn. 

7 năm làm lãnh đạo viện, GS Liết chưa hề nhận một đồng lương nào, bởi ông nghĩ, “khi người lãnh đạo công tâm, chịu hy sinh thì sẽ thành công”. Ở viện, nhiều đồng nghiệp 2 lần gọi ông là bố – khi vào trường nông nghiệp và khi được ông hướng dẫn làm tiến sỹ. 

ThS Nguyễn Văn Hà – Phó Trưởng phòng Cây trồng cạn, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng- tâm sự: “Hồi tôi mới ra trường, tuy nói là học nông nghiệp nhưng làm việc chưa đâu vào đâu. Chính thầy Liết là người cầm tay chỉ việc. Mặc dù thầy là lãnh đạo nhưng luôn sẵn sàng lội xuống ruộng, chỉ cho chúng tôi từ cách cầm cuốc, vun thế nào, chọn cây chọn dòng ra sao, lai tạo như thế nào”. 

Nhắc đến học trò, có một kỷ niệm làm ông xúc động mãi: Một buổi tối đi làm về muộn của năm 2000, đến nhà mình trong khu tập thể cũ gần trường, GS Liết sợ toát mồ hôi bởi không biết xảy ra việc gì mà rất đông người tụ tập. Hóa ra là học trò khóa 45 và lớp cao học đến tổ chức sinh nhật cho thầy. 

“Tôi có nhớ sinh nhật mình bao giờ đâu. Từ bé đến tuổi đó, lần đầu tiên được tổ chức sinh nhật nên tôi rưng rưng nước mắt” – ông trầm giọng. Có lẽ, ngoài các giống lúa, ngô thì tình cảm của học trò chính là tài sản lớn nhất mà GS Liết tích lũy được trong cuộc đời làm khoa học của ông.

Chế tạo thành công vắc-xin nhược độc phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn (PRRS)

Vắc-xin nhược độc phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn (PRRS) là sản phẩm của đề tài “Nghiên cứu sản xuất vắc-xin nhược độc phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn (PRRS)” thuộc Dự án khoa học và công nghệ phát triển sản phẩm quốc gia “Công nghệ sản xuất vắc-xin phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn” do Học viện Nông nghiệp Việt Nam là cơ quan chủ trì.

Bệnh tai xanh hay hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của lợn mọi nòi giống, mọi lứa tuổi. Bệnh tai xanh do một loại virus (virus PRRS) gây ra, virus tấn công các tế bào đại thực bào dẫn đến hiện tượng suy giảm miễn dịch ở lợn, tạo điều kiện cho các virus, vi khuẩn gây bệnh khác tấn công. Bệnh tai xanh gây thiệt hại nặng nề đối với ngành chăn nuôi lợn. Đối với lợn nái, bệnh gây hậu quả nghiêm trọng như sẩy thai, lợn con sơ sinh yếu ớt, giảm số con sơ sinh/ổ, tình trạng bệnh kéo dài âm ỉ, rối loạn sinh sản, động dục kéo dài, chậm động dục trở lại. Đối với đực giống, số lượng tinh dịch giảm, chất lượng tinh dịch kém, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con.

Virus PRRS có genome là một sợi đơn RNA, thành viên của họ Arteriviridae thuộc lớp Nidovirales. Dựa trên phân tích về cây phả hệ (phylogenetic tree) cho thấy các chủng PRRSV thuộc hai kiểu gen: Loại I là European genotype gồm virus thuộc dòng Châu Âu, đại diện là chủng Lelystad (LV) và loại II là Northern American genotype gồm những virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu là chủng virus Bắc Mỹ ATCC – VR2332. Các nghiên cứu về dịch tễ học phân tử cho thấy các chủng PRRSV rất khác nhau về kháng nguyên, độc lực và đa dạng về trình tự gen.

Những nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc virus PRRS và đáp ứng miễn dịch của cơ thể lợn mắc PRRS đã có những thành tựu đáng kể: Cấu trúc protein của virus, trình tự hệ gen hay thậm chí các epitop trên bề mặt virus cũng đã được xác định. Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất các loại vắc-xin nhằm kiểm soát và phòng chống bệnh. Một số vắc-xin hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới bao gồm các vắc-xin nhược độc như Progressis, Suvaxyn PRRS, Ingelvac PRRS KV, Suipravac PRRS, Amervac PRRS, Pyrsvac 183, Porcilis PRRS, Ingelvac PRRS MLV… Tuy nhiên, hiện tại những vắc-xin này vẫn không đáp ứng được yêu cầu về kiểm soát và phòng chống PRRS trên thế giới. Nhiều hướng nghiên cứu phát triển vắc-xin cũng được đề cập tới; Prieto và cộng sự (2010) đã nghiên cứu sản xuất vắc-xin dưới đơn vị GP5 (một loại epitop của PRRSV) hay nghiên cứu tổ hợp GP5 vào tế bào thực vật. Ngoài ra những nghiên cứu xung quanh việc cải tiến quy trình chế tạo vắc-xin cũng đã triển khai như nghiên cứu của William và cộng sự (2003) về so sánh hiệu quả của vắc-xin đơn chủng và vắc-xin đa chủng PRRS hay nghiên cứu của S.Deville và cộng sự (2011) về việc bổ sung 50% tá dược vào vắc-xin thay vì sử dụng vắc-xin với 100% thành phần là kháng nguyên. Mặc dù vậy, PRRS vẫn chưa được khống chế và ngành thú y các nước vẫn chưa có được vắc-xin chuẩn quốc tế để phòng chống PRRS cho đất nước mình.

Vì sự đa dạng về di truyền và tính kháng nguyên luôn thay đổi của các chủng virus tai xanh khác nhau đã và đang lưu hành và gây bệnh ngoài thực địa Việt Nam, nên việc đặt vấn đề nghiên cứu sản xuất vắc-xin nhược độc PRRS tại Việt Nam luôn là một hướng nghiên cứu mới có tính thời sự và thực tiễn. Vắc-xin là yếu tố quyết định trong công tác phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên nên sử dụng vắc-xin gì và sử dụng như thế nào để đem lại hiệu quả phòng chống dịch bệnh là vấn đề quan trọng. Như vậy, song song với việc thử nghiệm và khảo nghiệm các vắc-xin phòng PRRS trên thế giới nhằm tìm kiếm vắc-xin  phù hợp cho Việt Nam, hướng nghiên cứu tự sản xuất vắc-xin nhược độc PRRS từ chính những chủng PRRSV đã và đang lưu hành tại Việt Nam là cần thiết và khả thi với điều kiện của Việt Nam hiện nay. Khi chúng ta chủ động trong việc sản xuất vắc-xin thì việc khống chế dịch bệnh PRRS trở nên dễ dàng hơn.

Năm 2014, Học viện Nông nghiệp Việt Nam được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt chủ trì thực hiện Dự án khoa học và công nghệ: Công nghệ sản xuất vắc-xin phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn, trong đó đề tài KHCN “Nghiên cứu sản xuất vắc-xin nhược độc phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn (PRRS)” là một trong các nhiệm vụ thuộc Dự án. Sau 2 năm thực hiện, đề tài đã đạt được một số kết quả chính sau:

Đã tạo được vắc-xin phòng hội chứng rối loạn hô hấp & sinh sản cho lợn (PRRS) đạt các tiêu chuẩn về vô trùng (100%), an toàn (100%) và hiệu lực (>80%); Xây dựng được quy trình và đã sản xuất được giống virus sản xuất cấp 1, cấp 2; Xác định được thời điểm thu hoạch thích hợp sau gây nhiễm virus; Xác định được phương pháp lưu giữ giống sản xuất cấp 1, cấp 2.

Xây dựng được quy trình và đã sản xuất được sinh khối virus trên hệ thống chai lăn để sản xuất vắc-xin; Đã xác định được hàm lượng virus tối ưu cho một liều vắc-xin. Xây dựng được quy trình đông khô vắc-xin với các quy cách 10 liều, 20 liều và 50 liều. Xây dựng thành công quy trình sử dụng vắc-xin cho các đối tượng lợn khác nhau và quy trình bảo quản vắc-xin tại cơ sở sản xuất, trong quá trình vận chuyển và tại cửa hàng hoặc cơ sở sử dụng vắc-xin; Quy trình kiểm nghiệm vắc-xin với các chỉ tiêu vô trùng thuần khiết, an toàn, hiệu lực.

Đề tài đã công bố 02 bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và 01 bài báo trên tạp chí quốc tế trong danh mục ISI. Đề tài được Hội đồng tư vấn, nghiệm thu cấp quốc gia đánh giá cao các kết quả đạt được và đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp tục tối ưu quy trình sản xuất vắc-xin quy mô công nghiệp.

Một số hình ảnh thực hiện đề tài

Vắc-xin nhược độc phòng hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho lợn (PRRS) 
Biểu đồ thể hiện đáp ứng miễn dịch của lợn đối với virus PRRS 
Hiệu giá kháng thể lô lợn con sau khi tiêm vắc-xin

Họp Hội đồng tư vấn, nghiệm thu cấp quốc gia

Giải thưởng Kovalevskaia nơi vinh danh các nhà khoa học nữ và chắp cánh ước mơ khoa học cho nữ sinh Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Giải thưởng mang tên nhà nữ toán học Nga lỗi lạc thế kỷ 19-Sophia Kovalevskaia (1850-1891). Bà là người phụ nữ đầu tiên trong kỷ nguyên cận đại được nhận bằng tiến sĩ toán học, được phong hàm giáo sư đại học và được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học đế chế Nga, là nhà nữ toán học vĩ đại nhất trước thế kỷ 20. Quỹ Sophia Kovalevskaia được thành lập do sáng kiến và sự đóng góp về tài chính của bà giáo sư, tiến sĩ Ann Koblitz (người Mỹ) và chồng bà giáo sư, tiến sĩ Neal Koblitz. Bà đã từng sang Liên Xô (cũ) học tập, làm luận án tiến sĩ về nhà toán học Nga Kovalevskaia. Luận án của Bà đã được đánh giá cao và đã được in thành sách. Bà đã quyết định dùng số tiền nhuận bút của cuốn sách này và vận động thêm sự ủng hộ của một số nhà khoa học ở Mỹ để lập ra Quỹ Sophia Kovalevskaia. Mục đích của Quỹ là động viên, khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của phụ nữ ở các nước đang phát triển dưới hình thức trao giải thưởng cho các nhà khoa học nữ xuất sắc.

Từ năm 1985, ông bà Koblitz đã chọn các nhà khoa học nữ Việt Nam về lĩnh vực khoa học tự nhiên làm đối tượng để xét và trao giải thưởng Kovalevskaia. Hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban Giải thưởng Kovalevskaia trao giải thưởng cho một cá nhân và một tập thể nữ xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên. Giải thưởng Kovalevskaia bắt đầu từ năm 1985 và trở thành giải thưởng cấp quốc gia có uy tín dành cho các nhà khoa học nữ.

Từ năm 1985 đến nay, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã vinh dự có 2 nhà khoa học được nhận giải thưởng cao quý trên là PGS.TS. Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm và PGS.TS. Tạ Thị Thu Cúc.

Sáng 6/3/2018, Trung ương hội Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức lễ trao giải thưởng Kovalevkaia năm 2017 và giao lưu giữa các nhà khoa học nữ với nữ sinh, tới dự lễ trao giải thưởng Kovalevskaia có Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch UBGT Kovalevskaia Nguyễn Thị Doan, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tham gia lễ trao giải và tọa đàm năm nay, Học viện Nông nghiệp Việt nam có sự tham gia của GS.TS. Nguyễn Thị Lan – Giám đốc và 50 nữ sinh viên suất sắc của Học viện.

Giải thưởng năm 2017 được trao cho 2 cá nhân đạt giải Kovalevskaia là PGS.TS. Bác sỹ Trần Vân Khánh (sinh năm 1973, Trưởng Bộ môn Bệnh học phân tử, khoa Kỹ thuật Y học, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein, Trường ĐH Y Hà Nội) và PGS.TS. Đinh Thị Bích Lân (sinh năm 1960, Viện Công nghệ Sinh học, ĐH Huế).

Bên cạnh việc tổ chức trao giải thưởng hàng năm, Quỹ Giải thưởng Kovalevkaia còn tổ chức các cuộc giao lưu giữa các nhà khoa học nữ được nhận Giải thưởng Kovalevskaia và các nữ sinh viên xuất sắc các ngành khoa học tự nhiên của các trường Đại học và từ năm 2016 hàng năm Quỹ Giải thưởng Kovalevskaia trao học bổng và hỗ trợ cho các nghiên cứu của sinh viên.

Tại lễ trao giải Kovalevkaia năm 2017, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, vinh dự có 02 công trình được Hội Liên hiệp Phụ nữ hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu khoa học là “Nghiên cứu nấm Selerotium cepivorum gây bệnh thối  hạch hại hành và biện pháp phòng trừ bệnh bằng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma spp” của sinh viên Lã Thị Mai Lan – Lớp Bảo vệ thực vật A Khóa 60, và công trình “Xây dựng vector biểu hiện của protein màng ngoài của Candidatus Liberibactor Asiaticus gây bệnh Hanglongbinh (HLB) của sinh viên Vũ Anh Phương – lớp Khoa học cây trồng tiên tiến khóa 60.

Trong phần giao lưu với các nhà khoa học nữ, các nhà quản lý, sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thể hiện sự hiểu biết và quan tâm nhất định đến sự phát triển của đất nước, đến hoạt động nghiên cứu khoa học của nước nhà. Nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách đối với khoa học công nghệ nước nhà như khởi nghiệp, người người khởi nghiệp, quốc gia khởi nghiệp, thanh niên khởi nghiệp, phụ nữ khởi nghiệp, công nghiệp hóa và nền Công nghiệp 4.0…

Tại buổi lễ, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá cao những câu hỏi, những vấn đề mà các sinh viên nông nghiệp nêu ra. Phó thủ tướng tin tưởng rằng các em sẽ thành công và tin rằng để theo đuổi được đam mê khoa học, khởi nghiệp sáng tạo, mỗi bạn sinh viên phải luôn chịu khó, cố gắng vượt bậc trong học tập, nghiên cứu; dám nghĩ, dám làm và vượt qua khuôn khổ bình thường, ủng hộ mọi người khi có suy nghĩ, cách làm khác biệt: sẵn sàng đón nhận, chấp nhận thất bại – bạn sẽ thành công.

Hàn Việt Cường, tấm gương về nghiên cứu khoa học trong sinh viên

Sinh viên Hàn Việt Cường, lớp BVTV59A, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam vinh dự được nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ vì thành tích đạt giải nhất Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka” lần thứ XIX năm 2017, đồng thời được nhận bằng khen của Ban chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về giải Nhì Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2017 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

Từ khi mới vào trường, Hàn Việt Cường đã có ước mong sẽ được nghiên cứu khoa học, điều đó đã thôi thúc em lập nhóm và quyết định đăng kí xin thực hiện đề tài. Khi thực hiện đề tài, Cường được tiếp xúc và trao đổi nhiều hơn với các thầy, cô. Đó cũng là lúc em được học hỏi thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm từ các thầy, cô, đặc biệt là thầy PGS.TS. Hà Viết Cường, người trực tiếp hướng dẫn và định hướng cho em.

Cường tâm sự, trước khi tham gia nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên, em luôn mong muốn sẽ đạt giải và em hướng đến giải thưởng như một mục tiêu. Nhưng trong quá trình nghiên cứu và đến khi kết thúc, em mới nghiệm ra một điều rằng: mình đã lầm tưởng. Giải thưởng chỉ là hệ quả của quá trình nghiên cứu khoa học, còn mục tiêu của nghiên cứu khoa học là phát triển tri thức mới và đóng góp tri thức vào kho tàng của nhân loại. Và mục tiêu mà đề tài của em muốn đạt được là tạo ra chế phẩm sinh học phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm trên các cây trồng có giá trị kinh tế cao như cây hồ tiêu, cây ăn quả có múi, và cây ớt. Chế phẩm sinh học được tạo ra sẽ giúp nông sản trở nên an toàn và người nông dân yên tâm mở rộng diện tích sản xuất.

Quá trình nghiên cứu khoa học quả thực không hề dễ dàng, trong thời gian thực hiện nghiên cứu, Cường cũng chia sẻ rằng:“Nghiên cứu khoa học đã cho chúng em trải qua rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: vui có, buồn có, tức giận hay hoài nghi cũng có. “Vui” vì mình đã đọc được một phương pháp mới hay biết được thêm kiến thức mới và đặc biệt là thí nghiệm mà mình thực hiện đã có kết quả. Và “buồn” mỗi khi thí nghiệm bị hỏng và phải làm lại, hay “tức giận và hoài nghi” về bản thân mỗi khi không có kết quả hoặc có những câu trong tài liệu tiếng Anh mà mình đọc mãi không hiểu. Em nghĩ đó là cảm xúc cần có khi nghiên cứu khoa học và cảm xúc đó sẽ làm cho chúng em dày dặn kinh nghiệm, trưởng thành hơn. Về bản thân mình, em luôn luôn quan niệm: khi có phương pháp đúng thì chỉ có kiên trì mới dẫn chúng ta đến thành công.

Nghiên cứu khoa học đồng nghĩa với việc phải bỏ công sức để tìm hiểu, học hỏi và dành nhiều thời gian cho nghiên cứu. Nếu ai đó có hỏi em rằng: có thấy tiếc điều gì khi dành thời gian cho nghiên cứu khoa học không? Em sẵn sàng trả lời là “không”. Em thầm cám ơn quãng thời gian nghiên cứu đã tôi luyện em, đã dạy em những bước chập chững trên con đường tìm kiếm tri thức của nhân loại và hơn hết, nghiên cứu khoa học làm cho em cảm thấy “sướng” khi được thả mình trong đó”.

Và cho đến nay, công trình nghiên cứu của Cường và công trình thực hiện cùng nhóm sinh viên đã đạt được những thành tích đáng khích lệ.

Giải Nhất giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017

Giải Nhì giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2017

Duy nhất chỉ có một điều làm Cường cảm thấy tiếc là giá như mình bắt đầu tham gia nghiên cứu từ sớm hơn nữa, giá như mình tìm hiểu về các lĩnh vực chuyên môn từ trước thì có phải mình đã học được nhiều kiến thức hơn không? Dẫu biết vậy, nhưng em vẫn rất hạnh phúc với những gì mình đã trải qua và tích lũy được. Về phần Cường, em luôn quan niệm rằng: “Học tập và tích lũy kiến thức là việc cần làm hàng ngày và thường xuyên. Trong khoa học sẽ không có một con đường tắt nào để dẫn đến thành công”.

Gặp lại Cường sau khi nhận liền 2 giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2017 trở về, Cường chia sẻ cảm giác của cá nhân em và nhóm khi nhận được giải thưởng cao quý: “Đây là một sự ghi nhận xứng đáng cho những gì nghiên cứu đã đạt được và tiềm năng ứng dụng, cũng như những định hướng tiếp theo của nghiên cứu. Quả thực, em cảm thấy rất vinh dự và tự hào khi từ thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, tên của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tên của thầy mình, PGS. TS. Hà Viết Cường và tên của em được xướng lên tại hạng mục cao nhất. Em xin cám ơn Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã luôn cho em một môi trường trong lành và yên tâm để nghiên cứu. Lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc em xin được gửi tới Thầy của em vì đã luôn truyền cho em tràn trề cảm hứng và niềm đam mê nghiên cứu khoa học”.

Ước mơ này sẽ chắp cánh cho những ước mơ khác, xin chúc cho Cường đạt được mọi ước mơ và xứng đáng là một sinh viên xuất sắc được sự tin yêu, quý mến của thầy cô và bạn bè trong Khoa Nông học nói riêng và sinh viên toàn Học viện nói nói chung.

Sinh viên Hàn Việt Cường – một sinh viên ưu tú, một tấm gương học tập và nghiên cứu khoa học đại diện cho các thế hệ sinh viên của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả đạt được sau gần 4 năm học tập chăm chỉ và say mê nghiên cứu khoa học, không chỉ là niềm vui của bản thân mà còn là niềm tự hào của gia đình và thầy cô. Chúc em tiếp tục gặt hái được nhiều thành tích trên con đường đã chọn “con đường nghiên cứu khoa học”. Qua đây, tôi cũng xin nhấn mạnh thêm rằng, dù các bạn xuất phát có thể khác nhau, nhưng nếu các bạn có ý chí học tập nghiên cứu khoa học thì luôn luôn được Học viện Nông nghiệp Việt Nam và tập thể các thầy, cô giáo trân trọng, tạo mọi điều kiện và sát cánh để cùng sinh viên thực hiện thành công hoài bão ước mơ của mình.                                              

Lễ ký cam kết của các nhóm nghiên cứu mạnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong những đơn vị có bề dày thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học, truyền thống đó được “truyền  – thụ” giữa thế hệ các nhà khoa học. Để phát huy truyền thống đó, đồng thời hoàn thiện hơn nữa, tiến bộ hơn nữa đặc biệt là tạo sự kết nối giữa kinh nghiệm của các nhà khoa học lâu năm với nhiệt huyết, sự nhanh nhạy của các nhà khoa học trẻ, ngay từ đầu năm 2017, được sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban KHCN cùng các đơn vị trong toàn Học viện đã triển khai xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực KHCN,trong đó cốt lõi là xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh. Continue reading “Lễ ký cam kết của các nhóm nghiên cứu mạnh”

Hội thảo sinh viên nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học giữa VNUA và NU – Nhật Bản lần thứ ba

Ngày 06/12, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo sinh viên nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học giữa Học viện và trường Đại học Niigata, Nhật Bản lần thứ ba nhằm trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về các kết quả đang nghiên cứu, cũng như để hiểu thêm về các hoạt động khoa học và khám phá tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ sinh học giữa hai bên.
Đến tham dự Hội thảo có đại diện Ban Hợp tác quốc tế, Ban Chủ nhiệm Khoa Công nghệ sinh học, sinh viên của Học viện; giảng viên và sinh viên của trường Đại học Niigata, Nhật Bản.
 

Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình. Vì vậy, Hội thảo lần này là dịp để các sinh viên đam mê nghiên cứu khoa học chia sẻ những vấn đề quan tâm chung và các kết quả nghiên cứu mới nhất về công nghệ sinh học thực vật, công nghệ tế bào gốc, kỹ thuật tế bào… Tại Hội thảo, các sinh viên của hai trường đã trình bày 10 báo cáo, trong đó có 6 báo cáo của các sinh viên trường Đại học Niigata và 4 báo cáo của sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Sau một ngày làm việc nhiệt huyết, hội thảo đã kết thúc thành công tốt đẹp. Thông qua hội thảo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và trường Đại học Niigata Nhật Bản ngày càng hiểu rõ hơn về các hoạt động nghiên cứu của nhau và đó sẽ là cơ sở tốt cho sự hợp tác lâu bền hơn nữa. Cả hai bên đều mong muốn và hướng tới hội nghị lần thứ 4 sẽ diễn ra vào năm 2018.
Ban CTCT&CTSV